Đấu tranh từ tự phát lên tự giác là quy luật vận động phát triển của phong trào – Tài liệu text

Bài viết Đấu tranh từ tự phát lên tự giác là quy luật vận động phát triển của phong trào – Tài liệu text thuộc chủ đề về Wiki How thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://cctechvietnam.vn/hoi-dap/ tìm hiểu Đấu tranh từ tự phát lên tự giác là quy luật vận động phát triển của phong trào – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Đấu tranh từ tự phát lên tự giác là quy luật vận động phát triển của phong trào – Tài liệu text”

Đánh giá về Đấu tranh từ tự phát lên tự giác là quy luật vận động phát triển của phong trào – Tài liệu text



Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.45 KB, 14 trang)

Câu 1: Đồng chí hãy phân tích và chứng minh “Đấu tranh từ tự phátsang tự giác là quy luật vận động và phát triển của phong trào côngnhân”Trong trường lịch sử đấu tranh tự giải phòng, giai cấp công nhân với tínhcách là giai cấp có những lợi ích căn bản đối lập với giai cấp tư sản, đã khôngngừng cải thiện trình độ giác ngộ ý thức giai cấp và sứ mệnh lịch sử toàn thếgiới của mình, sáng tạo ra những cách thức đấu tranh phong phú chống lại giaicấp tư sản. Tham gia trực tiếp vào phong trào đấu tranh sôi động của giai cấpcông nhân, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội đã vạch ra một trong số nhữngquy luật cơ bản nhất quy định sự vận động, phát triển của cuộc đấu ranh giaicấp của giai cấp làm công nhân, đó là quy luật đấu tranh từ tự phát lên tự giác củagiai cấp làm công nhân. Ngày nay, trong bối cảnh lịch sử mới, việc thống kê vànắm vững quy luật này giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về lịch sử phongtrào cộng sản và làm công nhân quốc tế, cũng như góp phần làm giàu thêm nguồntri thức lý luận và kinh nghiệm của Đảng ta, đóp góp thiết thực vào việc tăngcường sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước vìmục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Nhìn lại tiến trình vận động, phát triển của phòng trào công nhân quốctế có thể thấy, giai cấp vô sản ra đời là một quy trình lịch sử dài lâu, từ tầnglớp vô sản đầu tiên đến vô sản công trường thủ công và giai cấp vô sản hiệnđại. Vào thế kỷ XIV-XV, chế độ phong kiến suy yếu, quan hệ sản xuất tư bảnchủ nghĩa (TBCN) bắt đầu hình thành ở một số nước Châu Âu, quá trình tíchlũy nguyên thủy TBCN diễn ra làm xuất hiện lao động làm thuê TBCN, lớpngười lao động này từng bước bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, tư liệu sinh

2

hoạt chủ yếu, trở thành người tự do bán sức lao động để kiếm sống. Đó chínhlà những người vô bản đầu tiên. Như vậy, tích lũy tư bản nguyên thủy TBCNlà sự tước đoạt tàn nhẫn đối với người lao động, là con đường cơ bản, trực

tiếp biến người lao động trong xã hội phong kiến thành công nhân làm thuê.Từ cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, ở một vài nước Châu Âu, hìnhthành và phát triển kiểu tổ chức sản xuất công trình thủ công TBCN, Vì vậylàm xuất hiện giai cấp vô sản công trường thủ công. Giai cấp này có đặc điểmphân tán ngăn cách trong sản xuất, chưa có mối liên hệ chặt chẽ với nhéu.Phần lớn làm công nhân con mang nặng tư tưởng, tâm lý của người sản xuất nhỏ,chưa bị cột chặt vào guồng máy sản xuất TBCN. Cho nên, giai cấp vô sảncông trường thủ công chưa trở thành lực lượng ổn định, độc lập trong xã hội.Địa vị làm thuê của họ còn mang tính tạm bợ, nhất thời. Đó chưa phải là giaicấp vô sản hiện đại nên chưa thể nhận thức được sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân.Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX,tạo ra bước nhảy vọt trong cuộc sống kinh tế, chính trị- xã hội. Nó đẩy nhanhphương thức sãn xuất TBCN phát triển mạnh mẽ, do đó, vai trò thống trị củagiai cấp tư sản được củng cố. Nó đánh dấu bước chuyển căn bản của CNTBsang giai đoạn đại công xưỡng và giai cấp vô sản hiện đại ra đời.Việc sự dụng máy móc sản xuất làm phá sản hàng loạt những người sãnxuất nhỏ. Đa số tiêu thương, tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân bị nền côngnghiệp đánh bại và bị đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Vì vậy, giai cấp vôsản nhanh chống trở thành một lực lượng xã hội lớn. Chính do đó chúng tacó thể nòi rằng giai cấp công nhân là giai cấp được nền đại công nghiệp“tuyển lựa” từ tất cả các giai cấp và tầng lớp lao động trong dân cư và chủ

3

yếu là nông dân. Sự ra đời của giai cấp làm công nhân gắn liền với nền sản xuấtđại công nghiệp và chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi sãn xuất đại côngnghiệp đã thay thế về cơ bản nền sản xuất thủ công. Ăng Ghen sau khi nghiêncứu giai cấp vô sản đã nhận xét “Đại công nghiệp kéo người công nhân công

trường thủ công ra khỏi những khó khăn gia trưởng của họ. Họ mất hết mọicủa cải/tài sản cuối cùng của họ và chỉ khi đó họ mới trở thành người vô sản… giaicấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp phát sinh”.Dưới chế độ TBCN giai cấp công nhân còn được gọi là giai cấp vô sản,là giai cấp hoàn toàn không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động chonhà tư bản để kiếm sống. Họ là người sản xuất ra của cải cho toàn xã hộinhưng lại sống trong cảnh nghèo khổ. Trong sản xuất họ là giai cấp phụthuộc và trong phân phối là giai cấp bị bóc lột dưới hình thức bị bóc lột giátrị thặng dư. Là giai cấp gắn liền với giai cấp đại công nghiệp và được nềnđại công nghiệp rèn luyện, giai cấp công nhân có tính tổ chức kỷ luật cao vìcó khó khăn thuận lợi tập hợp lực lượng biểu thị sức mạnh của mình. Là giaicấp bị áp bức bóc lột có lợi tích đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản nên giaicấp công nhân kiên quyết đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, có khả năngđoàn kết với quần chúng lao động bị áp bức bốc lột trong cuộc đấu tranhchung.Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại tư sản diễn ra ngay từkhi nó mới ra đời. Cuộc đấu tranh đó phát triển từ thấp đến cao, từ đấu tranhkinh tế đến đấu tranh chính trị, từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác.Vào cuối thế kỷ XVIII đến những năm 40 của thế kỷ XIX những cuộcđáu tranh kinh tế của giai cấp làm công nhân diễn ra sôi nổi và mang tính tất yếukhách quan. Lúc này giai cấp bị bóc lột nặng nề và bần cùng hóa đã đẩy mâu

Mọi Người Xem :   Cung cấp thông tin cá nhân bằng tiếng Anh - TiengAnhK12 - Ôn luyện thông minh

4

thuẫn giữa giai cấp công nhân và tư sản đến mức độ gay gắt và biểu hiệnthành những biến động chính trị lớn. Liên tiếp trong 2 năm 1831-1834 côngnhân thành phố Lyon (Pháp) tiến hành 2 cuộc khởi nghĩa. Đến năm 1831 họdương lên lá cờ đỏ với khẩu hiệu mang nội dung “ sống có việc làm hay chếttrong đấu tranh”, đến năm 1834 dương cao là cờ đỏ mang nội dung kinh tế

trước đây bằng khẩu hiệu chính trị “cộng hòa hay là chết”. Năm 1844, côngnhân thành phố dệt Xê nê di (Phổ) cũng khởi nghĩa tiến hành đập phá đốt khotàng, nhà xưởng của người chủ tư bản. Ở Anh diễn ra phong trào hiếnchương suốt từ năm 1938-1948 là phong trào mang tính chính trị đầu tiên củagiai cấp công nhân anh chống lại giai cấp tư sản đặt biệt và tiến công vàochính quyền của giai cấp tư sản Anh.Những cuộc đấu tranh trên đều thất bại, song nó đánh dấu bước chuyểnbiến rất quan trọng của giai cấp công nhân từ chỗ lệ thuộc vào giai cấp tư sảnđến chổ độc lập về chính trị và đối lập lại giai cấp tư sản; từ chổ chỉ biết đấutranh kinh tế đến chổ sử dụng đấu tranh chính trị, từ chổ rời rạc lẻ tẻ đến chổhành động có tổ chức, thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Lê Nin cho rằngđó là: “Phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chấtquần chúng và có cách thức chính trị”. (Lê Nin toàn tập, Nxb Tiến bộ xuấtbản năm 1974 tập 2 trang 7,8)Những cuộc đấu tranh của giai cấp làm công nhân chống lại giai cấp tư sảntrong những năm 30-40 của thế kỷ XIX ở một vài nước Châu Âu cho thấy rằng giaicấp làm công nhân đã bước lên vũ đài như một lực lượng chính trị độc lập vớinhững yêu sách giai cấp của riêng mình. Trong đấu tranh, giai cấp làm công nhântự thể hiện là giai cấp có tổ chức nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhấttrong số các giai tầng bị tư bản áp bức. Song những cuộc đấu tranh ấy củagiai cấp công nhân vẫn mang tính tự phát. Đó là một tất yếu khách quan bởi

5

vì người làm công nhân bị tư bản bóc lột, áp bức hết sức nặng nề, tư bản càng tíchlũy sự giàu có bao nhiêu thì cuộc sống người làm công nhân bị điều đứng bấynhiêu, làm công nhân không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranhchống áp bức bóc lột. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tưsản diễn ra công khai quyết định ở khắp các nước tư bản bởi bắt nguồn từ quan

hệ đối kháng giữa tư bản và lao động.Phân tích các cuộc đấu tranh của giai cấp làm công nhân từ cuối thế kỷXVIII đến nữa đầu thế kỷ XIX ta thấy rõ tính tự phát thể hiện ở các điểm sau:- Về đối tượng đấu tranh: Lúc đầu là máy móc, kho tàng, nhà xưởngcủa nhà tư bản, không đồng ý nhà tư bản áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,về cuối những năm 30-40 của thế kỷ XIX thì đối tượng đâu tranh có hướngvề nhà tư bản nhưng mới chỉ mang tính cá nhân. Như vậy đối tượng của cuộcđấu tranh của giai cấp làm công nhân lúc ấy là chưa đúng.- cách thức đấu tranh: Lúc đầu là người làm công nhân dồn nổi căm hờncủa mình vào đập phá máy móc, nhà xưởng của nhà tư bản vì họ cho rằngđây là nguyên nhân gây ra ra khổ đau của họ. Cuộc đấu tranh đó phát triển lênvới hình thức bãi công và cao hơn là cuộc khởi nghĩa như khởi nghĩa Lyon(Pháp), khởi nghĩa Xê nê di (Phổ), đỉnh cao của cách thức đấu tranh này làCông xã Pari (năm 1871).- Về quy mô và lực lượng tham gia đấu tranh: Biểu hiện rõ nhất là lẻ tẻ,cục bộ từng địa phương, từng ngành. Chưa có sự kết nối công nhân của cáclàm công nhân các ngành. Cuộc đấu tranh về sau có phát triển lên với quy mô lớnhơn song vẫn rõ rệt tình cục bộ, thiếu sự liên kết. Lực lượng đấu tranh mớichỉ là người làm công nhân mà không có được mối liên lạc với nông dân.

6

– Về mục tiêu đấu tranh: Chủ yếu về mong muốn cuộc sống kinh tế trướcmắt như đòi tăng lương, Giảm giờ làm, cải thiện khó khăn sống và làm việc,không đồng ý tình trạng lương thực, thực phẩm đắt đỏ, chống chế độ cúp phạt vànhững trò lừa gạt của chủ nghĩa tư bản. Những cuộc đấu tranh của giai cấpcông nhân vào những năm 30, 40 của thế kỷ XIX đã có mục tiêu chính trịnhư khởi nghĩa của công nhân dệt Lyon (pháp 1834), phong trào hiến chươngAnh nhưng về cơ bản mục tiêu đấu tranh là đòi quyền lợi về kinh tế.

– Về lực lượng lãnh đạo: Cuộc đấu trang của giai cấp làm công nhân ngàymột phát triển đã đòi hỏi và làm xuất hiện những tổ chức làm công nhân. Việchình thành các tổ chức công nhân đầu tiên làm cho phong trào công nhân từchỗ hoạt động phân bố rời rạc, đến vận hành có tổ chức. Nó góp phần quantrọng vào việc đoàn kết lực lượng, phối hợp hoạt động của giai cấp côngnhân. tuy nhiên, phong trào tự phát không vượt khỏi giới hạn cao nhất củanó là chủ nghĩa công đoàn. có khả năng nói cho đến nay, công đoàn ở tất cả cácnước TBCN chủ yếu vẫn là các tổ chức nghề nghiệp của GCCN, được tổchức ra nhằm bênh vực các quyền lợi mình về mặt kinh tế của TBCN. Lê Ninnhận xét rằng cuộc đấu tranh của các công đoàn ở các nước tư bản chỉ lànhằm thay đổi cách thức bóc lột này bằng cách thức bóc lột khác mà thôi.tác nhân sâu xa của đấu tranh tự phát là ở chỗ: Giai cấp côngnhân chưa nhận ra bản chất bóc lột của giai cấp tư sản, chưa phân biệt đượcmáy móc với việc dùng máy móc theo kiểu TBCN. Song với phẩm chấtcủa mình, cuộc đấu tranh của GCCN vẫn diễn ra mạnh mẽ ở trong nửa đầuthế kỷ XIX, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của phong trào CN. Nhữngcuộc đấu tranh này tuy còn tự phát nhưng có vai trò nhất định. Nó giáo dục,rèn luyện GCNC cải thiện tinh thần giác ngộ, rèn luyện ý chí tinh thần vàphương pháp đấu tranh, là cơ sở để nhận rõ sức mạnh của mình và sự cần

7

thiết phải đoàn kết trong đấu tranh, đặc biệt là nhận rõ kẻ thù của mình làGCTS. Lê nin đánh giá “Bãi công dạy cho công nhân thấy rõ đâu là sứcmạnh của bọn chủ và đâu là sức mạnh của mình nó tập cho công nhân thóiquen nghĩ đến tất cả bọn chủ, đến toàn bộ giai cấp các nhà tư bản và đếntoàn bộ giai cấp công nhân, chứ không phải nghĩ đến chủ của mình và cácđồng chí gần gũi nhất của mình”. Để cuộc đấu tranh của giai cấp công nhânchuyển từ tự phát lên tự giác cần 3 điều kiện sau đây:

Mọi Người Xem :   Cách Tắt Chế Độ Demo Là Gì, Cách Tắt Chế Độ Demo Trên Tivi Sony

Một là, Phong trào công nhân phải có lý luận, hệ tư tưởng chính trịkhoa học và cách mạng dẫn đường. tính khoa học thể hiện ở chỗ nó chứađựng được thế giới qua duy vật và phép biện chứng, đó là công cụ để nhậnbiết được sự vận động thể giới và cải tạo thể giới; tính cách mạng thể hiện ởchỗ nó nhấn mạnh vai trò tự giác của nhân tố chủ quan bời vì quy luật xã hộimang tính khách quan nhưng khác với quy luật tự nhiên, nó chỉ trở thànhhiện thực thông qua hoạt động tự giác của chủ thể.Hai là, Phong trào làm công nhân phải có chính đảng tiên phong. Đảng làđội tiên phong chính trị tổ chức là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất, giác ngộnhất của giai cấp công nhân. Đảng là những người đưa yếu tố tự giác nhấtvào phong trào làm công nhân, là người định hướng chính trị và là người giáodục, động viên tổ chức cho quần chúng vận hành cách mạng. Vai trò tiênphong của Đảng được thể hiện trước hết trên lĩnh vực lý luận. LêNin chỉ rõ“Chỉ đảng nào được 1 lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có thể làmtròn vai trò của người chiến sĩ tiên phong”. Đảng phải được tổ chức chặt chẽđể đảm bảo là một đội ngũ thống nhất ý chí và hành động có lý luận nghiêmtúc.

8

Ba là, Phải có cương lĩnh chính trị đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh lịchsử chi tiết. Đảng là đường lối chiến lược, sách lượng chỉ đạo của đấu tranhtrong từng giai đoạn cách mạng của GCCN.- Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, giai cấp vô sản đã trở thành lựclượng ổn định, độc lập trong xã hội. Phong trào làm công nhân chống giai cấp tưsản diễn ra gay gắt và đòi hỏi cần có lý luận khoa học lý luận cách mạng dẫnđường. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được bắt buộc ấy.Với trí tuệ thiên tài và lập trường cách mạng kiên định, triệt để củamình Mác và Ăngghen đã kế thừa và tận dụng những tư tưởng tiến bộ của

triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội khôngtưởng Pháp và những thành tựu rực rỡ trong khoa học tư nhiên để làm cuộccách mạng vĩ đại trong khoa học xã hội – sáng tạo ra chủ nghĩa Mác – Mộthọc thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản. Lần đầu trong lịch sửMác và Ăng ghen nhận ra rằng, chính GCVS là người giải phóng mình, đồngthời giải phóng cho toàn nhân loại.Tháng 2/1848, Mác và Ăng ghen viết “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” đâylà tác phẩm lý luận hoàn chỉnh bao gồm cả 3 bộ phận hợp thành Chủ nghĩaMác – Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Tác phẩmnày đánh dấu sự chính muồi ra đời chủ nghĩa Mác. Đồng thời đây cũng làbản cương lĩnh chính trị đầu tiên của giai cấp làm công nhân. Nó chỉ ra nhữngnhiệm vụ chiến lược cơ bản của GCCN; Khẳng định sự nghiệp giai phóngGCCN là nhiệm vụ của bản thân GCCN và nó chỉ có khả năng thực hiện được vớiđiều kiện vô sản tất cả các nước liên kết lại và cùng lúc ấy phóng ra cho toànnhân loại. Tuyên ngôn chỉ ra rằng, trong cuộc đấu tranh tự phóng ra, giaicấp vô sản phải lập ra chính đảng độc lập của mình và sử dụng con đường

9

cách mạng bạo lực. GCVS trước hết phải tiêu diện GCTS ở nước mình, ởnhững nước chưa làm cuộc cách mạng dân chủ tư sản, những người cộng sảncó trách nhiệm với mọi phong trào cách mạng chống chế độ đương thời vàtìm mọi cách liên minh với các lực lượng tiến bộ trong qua trình liên minhnhững người cộng sản phải giữ vững tính độc lập của mình. Khẩu hiệu đoànkết quả của Tuyên ngôn là “ Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại”.Phong trào công nhân đã phát triển đến một trình độ phải có sự lãnh đạothống nhất mọi hoạt động để hành động động lập và tự giải phóng mình, cùngvới vận hành không mệt mỏi của Mác và Ăng ghen, tháng 6/1847 đồngminh những người cộng sản ra đời, đây là tổ chức làm công nhân quốc tế đầu tiên

lấy chủ nghĩa Mác làm ngọn cờ tư tưởng. Đồng minh những người cộng sảnđã xác định mục đích vận hành của mình là lật đổ giai cấp tư sản, xóa bỏ xãhội TB, giành chính quyền về tay VS, xây dựng xã hội mới không có tư hữuvề tư liệu sản xuất, không có giai cấp,Như vậy, vào các năm 1847, 1848 phong trào công nhân đã hội tụ đủcác khó khăn để chuyển từ tự phát lên tự giác. tuy nhiên, cao trào cách mạng1848, 1849 ở Châu Âu đến công xã Pari (1871) và cho đến trước cách mạngtháng 10 Nga 1917, cuộc đấu tranh của GCCN vẫn mang tính tự phát. Bởi vìcả quy trình cách mạng ấy là quy trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Máctrước chủ nghĩa cơ hội đủ loại, chủ nghĩa xét lại hiểu và tả khuynh; quá trìnhchưa ý thức giai cấp công nhân ý thức vô sản của quần chúng làm công nhân,biến cuộc đấu tranh tự phát của làm công nhân chống bọn chủ tư bản thành cuộcđấu tranh chống chế độ tư bản; quá trình tổ chức đội tiên phong của giai cấplàm công nhân thành một đảng Mác xít chân chính; quy trình đấu tranh bảo vệthống nhất của GCCN trước sự chia rẽ của kẻ thù… chỉ khi nào chủ nghĩaMác thâm nhập, soi sáng vào GCCN mới thấy rõ bản chất bóc lột của nhà tư

10

bản, thấy rõ sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Và chỉ từ đó, GCCN mới ýthức được rằng cần phải tổ chức ra chính đảng độc lập của mình để lãnh đạocuộc đấu tranh của GC đi đến thắng lợi hoàn toàn. Và từ khi có chủ nghĩaMác soi sáng, có chính đảng cách mạng lãnh đạo, GCCN mới chuyển thànhgiai cấp tự giác để tiên phong trong cuộc đấu tranh phóng ra nhân loại khỏiáp bức bóc lột, sự từ giai cấp tự mình thành giai cấp vì mình.Cách mạng tháng 10 Nga (1917) là cuộc cách mạng tự giác của GCCNNga là cuộc cách mạng tự giác của giai cấp làm công nhân Nga. Lần đấu tiên,nông dân, quần chúng lao động bị áp bức, đã đứng lên đập tan ách thống trịcủa bọn địa chủ và tư bản, tự mình giành lấy chính quyền, tự mình bắt tay

vào xây dựng xã hội mới. Cách mạng tháng Mười thực hiện sứ mệnh giảiphóng quần chúng lao động khỏi áp bức bốc lột, đưa họ từ thân phận nô lệlàm thuê lên địa vị người chủ chân chính của xã hội. Cách mạng tháng Mườiđem lại nhà máy cho làm công nhân, ruộng đất cho làm công nhân, hòa bình và hữunghị cho các dân tộc, bình đẵng và công bằng xã hội cho mọi người.Như vậy, phong trào công nhân vận động tự phát lên tự giác là quy luậttất yếu khách quan. Bởi vì giai cấp làm công nhân có bản chất cách mạng triệt để,có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới, tự giải phóng mình và giải phóng cho nhândân lao động trên toàn thế giới, vận hành của họ phù hợp với quy luật pháttriển của lịch sử. Đồng thời, giai cấp công nhân có lý luận, hệ tư tưởng chínhtrị khoa học và cách mạng dẫn đường, có chính đảng tiên phong chân chính,có cương lĩnh cách mạng đúng đắn và phù hợp.Đấu tranh tự phát và từ giác trong phong trào làm công nhân luôn xen kẽnhéu và có mối quan hệ biện chứng với nhéu. Có đấu tranh tự phát thì mớicó đấu tranh tự giác, bởi vì nhận thức của con người đi từ đơn giản đến phức

Mọi Người Xem :   Nghỉ chờ việc do dịch Covid thì được hưởng bao nhiêu % lương? - Luật Long Phan

11

tạp, đi từ trình độ thấp đến trình độ cao. quy trình đấu tranh đã giáo dục, rènluyện, nâng cao trình độ giác ngộ ý thức tinh thần và phương pháp đấu tranhcho giai cấp công nhân; cho họ thấy và tự tin vào sức mạnh của chính mình;cho họ thấy sự rất cần thiết phải đoàn kết trong đấu tranh, đặc biệt là nhận thứcrõ kẻ thù của mình là giai cấp tư sản. Khi giành được chính quyền, giai cấplàm công nhân phải đảm bảo tính tự giác trong cuộc đấu tranh giữ và bảo vệchính quyền, quan trọng hơn là trong cuộc đấu tranh xây dựng xã hội mới.Chỉ cần lơi lỏng hoặc coi nhẹ một trong số những điều kiện đấu tranh tự giác thìcuộc đấu tranh của giai cấp làm công nhân lại quy lại về tự phát.Tại sao tính tự phát và tự giác đan xen nhau trong quá trình đấu tranhcủa giai cấp làm công nhân. một trong những vấn đề; trả lời câu hỏi này qua phân

tích tính phức tạp của quy trình hình thành và phát triển của giai cấp côngnhân. Một mặt, giai cấp làm công nhân không có tư liệu sản xuất, bị áp bức bóclột, đối lập với giai cấp tư sản. ngoài ra, giai cấp làm công nhân lại do nền sảnxuất tư bản sinh ra, gắn với nền sản xuất ấy bằng các điều kiện lao động vàsinh sống. Là người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, bị ápbức bóc lột là yếu tố khách quan nảy sinh đoàn kết đấu tranh kiên quyết vàphát triển từ tự phát lên tự giác. Do gắn với nền sản xuất TBCN để mưu sốngnên giai cấp làm công nhân có xu hướng thỏa hiệp về mặt xã hội dưới những hìnhthức khác nhau với giai cấp tư sản.Một mâu thuẫn nữa của quá trình đấu tranh của giai cấp công nhânđược Mác – Lê Nin chỉ ra: Đó là, một mặt giai cấp công nhân được quy trìnhsản xuất đại công nghiệp rèn luyện nên có tính kỷ luật cao và có điều kiện tậphợp lực lượng biểu thị sức mạnh của mình. Khi dưới đảng tiên phong giáodục và tổ chức giai cấp công nhân sẽ trở thành một lực lượng hùng mạnh,đoàn kết thống nhất đấu tranh không khoan nhượng với giai cấp tư sản. Mặt

12

khác, như Mác và Ăngghen đã chỉ rõ “Sự tổ chức như vậy của những ngườivô sản trở thành giai cấp và Vì vậy thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnhtranh của công nhân với nhéu phá vỡ”. Đó chính là cơ hội để giai cấp tư sảnchống giai cấp công nhân. (Vì tạo môi trường để giai cấp tư sản thực hiệnchính sách chia rẽ và lừa giai cấp làm công nhân về mặt xã hội bằng những mánhkhóe tinh vi).Như vậy, phong trào công nhân luôn luôn tồn tại hai chiều hướng: đoànkết thống nhất và chia rẽ nội bộ. Còn giai cấp tư sản thì đoàn kết đấu tranhcủa giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản còn phát triển. Song chừng nàocòn chế độ tư hữu TBCN thì chưa loại trừ được chiều hướng chia rẽ của phongtrào làm công nhân. Chính vì chiều hướng đấu tranh tự phát và tự giác đan xen nhau.

Theo sự phát triển khách quan của lịch sử thì chiều hướng đoàn kết thống nhấtđấu tranh từ tự phát lên tự giác là chủ đạo nhưng xu hướng ấy không thể diễnra một cách đơn giản. Nó chỉ là kết quả không mỏi mệt của giai cấp làm công nhântrên lĩnh vực tư tưởng chính trị và tổ chức dưới sự lãnh đạo của đảng MácxítLêninnít trung thành với sứ mệnh lịch sử của giai cấp làm công nhân.liên lạc; Sự ra đời và quá trình phát triển của giai cấp công nhân ViệtNam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam, phong trào làm công nhân Việt Nam đã phát triển qua hai thời kỳ từ1919-1925 và từ 1926-1930.* Thứ nhất, thời kỳ 1919-1925: Vào thời kỳ đầu, do số lượng còn ít,trình độ giác ngộ còn thấp nên những cuộc đấu tranh của công nhân chỉ diễnra lẻ tẻ, rời rạc ở từng xí nghiệp, từng kíp thợ, xưởng mộc,… Mục đích đấutranh chủ yếu là đòi quyền lợi kinh tế như tăng lương, Giảm giờ làm. Hìnhthức đấu tranh chủ yếu là đập phá máy móc, đánh cai ký, chủ thầu, phá giao

13

kèo, bỏ trốn tập thể,… Phong trào công nhân Việt Nam thời kỳ này còn ởmức độ thấp, phụ thuộc vào phong trào yêu nước nói chung, mang tính chấttự phát, chưa tỏ rõ được sức mạnh của một lực lượng chính trị độc lập, chưacó ý thức rõ rệt về sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình. Cuộc bãi công Ba Sonkết thúc thắng lợi đánh dấu một bước tiến mới của phong trào làm công nhân ViệtNam: không những nhằm vào mục tiêu đấu tranh kinh tế mà cao hơn nữa cònnhằm vào mục đích chính trị, thể hiện tình đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tếcủa công nhân Việt Nam. có khả năng khẳng định rằng, cuộc bãi công Ba Son làmột mốc son rất quan trọng trong phong trào công nhân – giai đoạn côngnhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và có mục đích chính trịrõ ràng.* Thứ hai, thời kỳ 1926-1930: Nhờ sự ra đời và vận hành tích cực của

Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, các tư tưởng của Cách mạng thángMười Nga và chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá rộng rãi trong côngnhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, phong trào làm công nhân ngày càngphát triển mạnh mẽ và chuyển biến nhénh chóng về chất. Các cuộc đìnhcông, bãi công liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Trong hai năm 1926-1927, đã nổ ra27 cuộc đấu tranh của công nhân, tiêu biểu là cuộc bãi công của 1000 côngnhân nhà máy sợi Nam Định, của 500 làm công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm,công nhân cao su Phú Riềng,… Các cuộc đấu tranh này đều nhằm hai mụctiêu chung là đòi tăng lương từ 20% đến 40% và đòi thực hiện ngày làm 8hnhư công nhân bên Pháp.Trong thời kỳ 1926-1929, phong trào công nhân đã có những bước tiếnbộ mới, thay đổi ngay về chất từ có chủ nghĩa, đấu tranh mục tiêu rõ ràng, có tổchức thống nhất. Những cuộc đấu tranh tự phát đã giảm bớt và thay vào đó lànhững cuộc đấu tranh có ý thức nổ ra liên tục, rầm rộ, rộng khắp, sôi nổi và

14

quyết liệt hơn với số lượng người tham gia đông, có sự phối kết hợp giữa cácđịa phương, đơn vị đấu tranh, có sự lãnh đạo chặt chẽ của tổ chức công hộihay thanh niên với quy mô ngày càng lớn. Khẩu hiệu đấu tranh không nhữnggiới hạn ở mục đích kinh tế mà đã mang tính chất chính trị. Điều đó cho thấy rằng,quá trình đấu tranh của giai cấp làm công nhân Việt Nam đang chuyển dần từ đấutranh tự phát lên đấu tranh tự giác.Cùng với phong trào làm công nhân, phong trào nông dân, tiểu tư sản và cáctầng lớp nhân dân yêu nước khác cũng phát triển, tạo thành một làn sóngcách mạng dân tộc dân chủ rộng toàn quốc. Trong đó, giai cấp công nhânđã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đi đầu và trực tiếp lãnh đạophong trào đấu tranh cách mạng. Xuất hiện ba tổ chức cộng sản “ĐôngDương Cộng sản Đảng”(17/06/1929), “An Nam Cộng sản Đảng” (11/1929),

“Đông Dương Cộng sản Liên đoàn” (01/01/1930). Sự ra đời của ba tổ chứccộng sản đã khẳng định bước nhảy vọt của cách mạng Việt Nam: nó chứng tỏhệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong phong trào dân tộc và nhữngđiều kiện để thành lập Đảng Cộng sản đã hoàn toàn chín muồi trong phạm vicả nước.Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) là sản phẩm của sự kếthợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào làm công nhân và phong trào yêunước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chứng tỏ “rằng giaicấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[8]. Từ đây, giaicấp làm công nhân Việt Nam thực sự trở thành một lực lượng chính trị độc lập,thống nhất trong cả nước. Thông qua chính đảng của mình, giai cấp côngnhân Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc vượt qua mọi thácghềnh hiểm trở để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ thắnglợi./.



Các câu hỏi về tự phát và tự giác là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê tự phát và tự giác là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts

About The Author

Add Comment