CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP Ở PHÁP – Tài liệu text

Bài viết CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP Ở PHÁP – Tài liệu text thuộc chủ đề về HỎi Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://cctechvietnam.vn/hoi-dap/ tìm hiểu CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP Ở PHÁP – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung : “CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP Ở PHÁP – Tài liệu text”

Đánh giá về CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP Ở PHÁP – Tài liệu text


Xem nhanh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠTKHOA LỊCH SỬ

MÔN : LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI

ĐỀ TÀI: CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG Ở PHÁP

Đà Lạt, 03/6/2015

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠTKHOA LỊCH SỬ

MÔN : LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠIĐỀ TÀI: CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP Ở PHÁPGVHD : Th.S Lê Thị Thu HằngSVTH

MSSV1.Y Hur Bkrông

1210974

2. Lê Hoàng Dung

1210928

3.Trương Thị Cẩm Nương4. K’ Nguyên

12109463

12109485.Phạm Thị Phương Thảo

Đà Lạt, ngày 6 tháng 3 năm 2015

1212128

MỤC LỤCMỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………………………………11.Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………………………………………….12. Lịch sử nghiên cứu vấn đề…………………………………………………………………………………………13. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………………………………………24. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………………………………………..25.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………………………..26.Đóng góp của đề tài…………………………………………………………………………………………………..27.Bố cục của đề tài……………………………………………………………………………………………………….3CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH NƯỚC PHÁP TRƯỚC CÁCH MẠNG XVIII………………………………………………41.1. Tình hình kinh tế……………………………………………………………………………………………………4CHƯƠNG HAI. CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP CỦA PHÁP…………………………………………………………………7KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………………………………………..12

Trang 1

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Nước Pháp trước cách mạng cuối thế kỉ XVIII chứa đầy những mâu thuẫngay gắt. Trong thế kỉ XVIII, các cơ cấu xã hội có từ lâu đời và các thể chếchính trị ở Châu Âu bị vây kín an toàn. Hầu hết các vương quốc vẫn tự cho làquyền lực của họ xuất phát từ Thiên Chúa. Cộng tác với tầng lớp quý tộc, họđứng đầu các lĩnh vực bao gồm các tầng lớp công dân khác nhau, hoặc cácđẳng cấp mà họ đi được mọi người biết đến. Mỗi tầng lớp có các quyền lợi, đặcquyền, và bổn phận riêng. Nhưng sức ép phải thay đổi đang hình thành trongthế kỉ. Ở Pháp, tài chính hay chính trị thường có thể được chế ngự bởi chế độquân chủ, sẽ đe dọa phát triển nhanh trong môi trường mới này. Sự bóc lột vôhạn độ của nhà nước phong kiến tăng lữ đã kìm hãm sự phát triển trong nôngnghiệp ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân cũng như ngăn cản sự phát triểncủa công thương nghiệp Tư Bản Chủ Nghĩa. Từ thế kỷ XVIII nền Công thươngnghiệp Pháp đã có bước phát triển mới đòi hỏi phá bỏ sự ràng buộc của chế độphong kiến thể hiện qua: Pháp có quan hệ mậu dịch với nhiều nước Châu Âu vàkhu vực khác, công nghiệp nhẹ phát triển như: các ngành làm đường, dệt vải,sản xuất hàng xa xỉ. Công nghiệp nặng: cơ khí, mỏ, đóng tàu, bước đầu đượccơ khí hóa. Xuất hiện các công trường thủ công. Quan hệ sản xuất phong kiếnlà trợ lực chính cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Tư Bản Chủ Nghĩa vàmâu thuẫn giữa chúng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bùng nổ cách mạng Pháp.Lúc này xã hội Pháp chia thành 3 đẳng cấp: tăng lữ, quý tộc và quảng đại quầnchúng nhân dân (gồm tư sản, nông dân, dân nghèo thành thị, thợ thủ công,….),khác nhau về địa vị Kinh tế – Chính trị và thái độ chính trị trong cách mạng.Giai cấp tư sản Pháp đứng đầu đẳng cấp thứ 3 ra đời trên nền tảng của một nềnkinh tế hàng hóa. Do vậy mâu thuẫn với chế độ phong kiến. Tuy nhiên giai cấpnày thể hiện tính không đồng nhất, chia thành mấy tầng lớp khác nhau: Đại tưsản, tư sản vừa và nhỏ, tư sản tài chính, tư sản công thương. Tính không đồngnhất này cùng với sự tồn tại vững chắc của chế độ phong kiến Pháp đã ảnhhưởng rất lớn đến xã hội Pháp lúc đó.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đềLịch sử thế giới cận đại 1 (tập 1) của nhóm tác giả Phan Ngọc Liên (chủbiên), Đào Tuấn Thành Nguyễn Thị Huyền Sâm, Mai Phú Phương, Nxb Đạihọc Sư Phạm xuất bản năm 2010 đã đề cập đến vấn đề bối cảnh tình hình củanước Pháp về chính trị kinh tế xã hội. Từ đó giúp ta hiểu thêm về mâu thuẫngay gắt giữa chế độ ba đẳng cấp ở Pháp.Lịch sử thế giới cận đại của tác giả Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng,xuất bản năm 2006 do Nxb Giáo dục. Tác phẩm đề cập đến vai trò của ba đẳng

Trang 2

cấp tăng lữ, quý tộc và đẳng cấp thứ ba.Lịch sử văn minh phương Tây của tác giả Mortimer, Barbara Hanawalt,David Herlihy, Theodore K.Rabb, Isser Woloch, Raymond Grew do nhà xuấtbản McGraw Hill, Collage đề cập đến vấn đề nguyên nhân xuất hiện của chế độba đẳng cấp.Tư liệu giảng dạy lịch sử thế giới cận đại của tác giả Phạm Hữu Lư, PhanNgọc Liên, Nguyễn THị Thu, Đặng Thị Thanh Tịnh do Nxb Giáo xuất bản năm1985 đề cập đến vấn đề đánh giá những vai trò của ba đẳng cấp.Lịch sử thế giới của tác giả Nguyễn Hiến Lê – Thiên Giang , Nxb Văn hóaThông tin năm 1995 đã đề cập đến những vấn đề chung của nước Pháp.3. Mục đích nghiên cứuĐề tài nghiên cứu vấn đề chế độ ba đẳng cấp của Pháp để làm rõ hơn vềnhững mâu thuẫn cũng như vai trò của ba đẳng cấp, từ đó đưa ra những đánhgiá những mặt tích cực và hạn chế của ba chế độ này trước cuộc cách mạng tưsản Pháp nổ ra năm 1789.4. Phương pháp nghiên cứuĐề tài được thực hiện dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa MácLêNin , tư tưởng Hồ Chí Minh , các chủ trương đường lối của Đảng và nhànước trên lĩnh vực sử học .Đây là đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học lịch sử nên hai phươngpháp chính được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic.

Ngoài ra các phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu cũng được sử dụngtrong đề tài.5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứuTrên con đường phát triển của nền sử học thế giới có sự xuất hiện củanhiều khuynh hướng sử học khác nhau. Cùng song hành phát triển, các khuynhhướng sử học có sự trao đổi cũng như đấu tranh lẫn nhau làm cho nền sử họcthế giới phát triển theo những chiều hướng khác nhau.Do đối tượng nghiên cứu của đề tài này là đặc điểm của sử học tư sản. Từviệc xác định chính xác đối tượng nghiên cứu giúp ta dễ dàng nhận định đượcviệc nghiên cứu ở đề tài này không đi vào nghiên cứu tổng quát cụ thể về sửhọc tư sản của từng quốc gia mà chỉ đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm chung của sửhọc tư sản thời cận đại nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở:Phạm vi không gian: Lịch sử thế giới cận đại 1Phạm vi thời gian: vào thế kỉ XVIII.6.Đóng góp của đề tàiVới đề tài này chúng tôi muốn giúp bạn đọc và những ai quan tâm đến vấn

Trang 3

đề này có được những kiến thức tổng thể, khái quát nhất về sự xuất hiện và pháttriển các khuynh hướng sử học tư sản thời cận đại. Qua đó thấy được tầm quantrọng, nhất là sự đóng góp của sử học tư sản đối với sự phát triển của nền sửhọc thế giới.Ngoài ra chúng tôi cũng đưa ra những kiến giải của mình dựa trên nhữngsự kiện đã xảy ra nhằm làm cho bài tiểu luận hoàn thiện hơn, dùng làm tài liệutham khảo cho các bạn sinh viên, bổ sung vào học phần lịch sử sử học.7.Bố cục của đề tàiNgoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài này được chia làmhai chương:

Chương 1. Trong chương này đề tài nêu lên bối cảnh của nước Pháp cuốithế kỉ XVIII.Chương 2. Chương này nêu lên vấn đề về vai trò và mâu thuẫn của chế độba đẳng cấp.

Trang 4

CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH NƯỚC PHÁP TRƯỚC CÁCH MẠNGXVIII1.1. Tình hình kinh tếMặc dù còn thua kém nước Anh và không có những biến đổi lớn về kĩthuật, xong nền kinh tế Pháp ở thế kỉ XVIII đã phát triển khá mạnh, nhất làcông nghiệp và thương nghiệp.+ Nông nghiệpChiếm một vị trí lớn trong cơ cấu nền kinh tế, hơn 90% cư dân Pháp(24.600.000 người vào năm 1740) vẫn sống bằng nghề nông. Phương thức canhtác lạc hậu, chế độ hữu canh chiếm vai trò chủ đạo, thiếu phân bón, giasúc…Năng suất lao động thấp, trung bình một bao lúa giống chỉ thu hoạch được5 bao lúa cuối vụ. Trong nông nghiệp Pháp hầu như không có cải tiến kĩ thuật,số đất bỏ hoang ngày càng nhiều (khoảng 1/3 diện tích) nạn đói kém mất mùathường xuyên xảy ra. Khác với nước Anh, nông nghiệp Pháp hầu như không hỗtrợ được gì cho sự phát triển của công thương nghiệp. Chủ nghĩa tư bản xâmnhập vào nông nghiệp, nhưng rất yếu. Tình trạng sút kém đó là kết quả tấtnhiên của sự duy trì chế độ phong kiến, một chế độ ăn sâu vào nông thôn nướcPháp và ngày càng trở nên lỗi thời, phản động.Quan hệ ruộng đất phong kiến chiếm địa vị thống trị trong nông thôn. Vềdanh nghĩa vua là chủ sở hữu tối cao của toàn bộ đất đai trên toàn quốc nên cóquyền lấy ruộng đất ban tặng cho quần thần. Nhà thờ cũng nắm quyền sở hữumột phần ruộng đất đáng kể.

Mọi Người Xem :   Các thuật ngữ hoa lan mà người chơi lan thường dùng - Lan Rừng Đẹp
Những đất đai đó được sử dụng theo hai hình thức. Thường lãnh chúaphong kiến giữ lấy một phần nhỏ làm lãnh địa. Lãnh địa được chia thành nhữngmảnh nhỏ, phát canh cho nông dân để thu tô theo chế độ phân đôi sản phẩmhay thu một số tô cố định. Những bản khế ước lĩnh canh thường quy định thờihạn cho phép người tá điền sử dụng từ 1 đến 3 năm, có khi 5 năm, nghĩa là 3lần luân canh ba khoảnh, cũng có kho dài hơn nữa. Sau khi hết thời gian đã quyđịnh, mảnh đất được trả về cho lãnh chúa. Ngoài lãnh địa, phần lớn đất đaiđược canh tác theo chế độ vĩnh điền nông nô.Nông dân lao động trên mảnh đất đó nhưng không có quyền sử dụngruộng đất đó nhưng không có quyền sở hữu, phải nộp cho lãnh chúa một thứthuế “xăng” nhất định.Người nông dân không có ruộng đất, phải đi làm thuê của lãnh chúa, đóngđịa tô và nghĩa vụ phong kiến cho lãnh chúa. Nông dân phải nộp cho LãnhChúa từ 1/6 đến 1/4 có khi đến 1/2 số thu hoạch, nộp cho nhà thờ “thuế thậpphân”.Như vậy đến cuối thế kỉ XVIII , sự phát triển của lực lượng sản xuất Phápđã bị kìm hãm nghiêm trọng bởi nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, chế độ sởhữu ruộng đất phong kiến, thuế quan nội địa phức tạp, hệ thống đo lường không

Trang 5

thống nhất, các quy chế ngặt nghèo của phường hội phong kiến.+ Công nghiệpNgành bông non trẻ chủ yếu tập trung ở vùng Ruăng và Lơ Havrơ đây làngành có tốc độ phát triển nhanh. Trung tâm dệt tơ, lụa nổi tiếng nhất hìnhthành ở Liông. Ngành luyện kim loại chủ yếu phát triển ở Andát và Lôren. Mộtsố xí nghiệp lớn được xây dựng, chuyên sản xuất các mặt hàng xa xỉ theo thờitrang, vốn được giới quý tộc và các tầng lớp giàu có ở Pháp và Châu Âu ưachuộng.

Công trường thủ công tư bản chủ nghĩa đóng vai trò chủ yếu trong côngnghiệp. Những công trường thủ công lớn, có quy mô từ 50 đến 100 công nhânxuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt là các vùng trung tâm luyện kim và khaithác than đá. Tuy còn ít, song vào cuối thế kỉ XVIII ở Pháp cũng đã xuất hiệnxí nghiệp lớn, như các mỏ than của công ty Ăngdanh tập trung tới 4.000 nghìnthợ làm việc; ở công trường thủ công Văn Rôbe ở Abơvilơ chuyên sản xuất damịn hơn 1.700 thợ dệt chủ yếu là phụ nữ.Việc sử dụng máy móc đã bắt đầu phổ biến trong công nghiệp, nhưng cònchậm. Vào thập niên 60 – đầu thập niên 70 của thế kỉ XVIII, trong ngành dệt ởNócmăngđi, lyông, Picacđi đã sử dụng máy Gienny nhập từ Anh sang.Tuy nhiên, chế độ phường hội phong kiến với những truyền thống bảo thủ, kĩthuật và tổ chức lao động lạc hậu đã kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất,quá trình tự do kinh doanh và khuyến khích cải tiến kĩ thuật. Máy móc đã xuấthiện nhưng chưa được áp dụng một cách phổ cập; cả nước Pháp mới chỉ cókhoảng vài chục chiếc máy hơi nước. Nhìn chung công trường thủ công cònchiếm số đông và là những doanh nghiệp nhỏ về quy mô cũng như về số thợ.Lao động thủ công còn là chủ yếu trong công nghiệp Pháp.+ Thương nghiệpCó phần khởi sắc, các hải cảng của Pháp nằm ven địa Trung Hải và ĐạiTây Dương trở nên nhộn nhịp. Mácxây là hải cảng chuyên xuất khẩu các sảnphẩm công nghiệp của Pháp sang vùng Cận Đông, đồng thời nhập khẩu nhữngmặt hàng nổi tiếng của Cận Đông và Viễn Đông như: vải vóc, hươngliệu…Năngtơ và Boocđô là hải cảng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩyngành thương mại hàng hải và thuộc địa phát triển mạnh mẽ.1.2 Tình hình chính trị – xã hội+ Chính trịNước pháp trước năm 1789 vẫn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế,trong khi nền tảng kinh tế – xã hội Pháp có nhiều biến đổi quan trọng. Thựchiện chế độ chuyên chế, vua Lui XVI (ở ngôi từ năm 1774 đến năm 1792) nắmgiữ toàn bộ tổ chức hành chính, quân đội, cảnh sát, đồ dùng các quan lại ởtrung ương và địa phương. Lui XVI, tuy là một người yếu đuối và nhu nhược,song vẫn thích nhắc rằng chỉ có ý chí của mình mới là luật pháp, tự cho rằngmình là vị quân chủ “do trời định”. Nhà tù Baxti ở Pari được coi là biểu trưng

Trang 6

của chế độ quân chủ chuyên chế. Nền quân chủ Pháp vào thế kỉ XVIII vẫn khéttiếng độc đoán và tàn bạo. Chỉ cần “mật lệnh có ấn vua” là từ cung đình đếnquý tộc đều có thể bị bắt, bị tù đày không xét xử.Một bộ trưởng của vua Lui XVI là bá tước Vơrgien nhận xét rằng “ở nướcPháp, vua phán và dân phải phục tùng”.Nhà nước và hoàng gia sống xa hoa, hoang phí. Hàng năm có tới xấp xỉ1/12 ngân sách nước Pháp được dùng cho nhu cầu ăn chơi của vua và quầnthần.Bộ máy quan liêu cồng kềnh, phức tạp và không đồng nhất của nền quânchủ chuyên chế Pháp chi phối chặt chẽ toàn bộ và đời sống. Việc duy trì cả mộtmớ pháp luật, tập quán, quy tắc phong kiến được hình thành trong nhiều thế kỉđã khiến cho hệ thống tổ chức chính quyền nước Pháp trước cách mạng hết sứchỗn độn, đầy dẫy những mâu thuẫn bên trong. Nước Pháp không có một tổchức hành chính, tư pháp, chế độ thuế khóa thống nhất giữa các vùng. Người tacảm thấy như mọi thứ hổ lốn khác nhau đã được sáp nhập vào để hợp thànhquốc gia Pháp.Cơ cấu hành chính của nước Pháp hoàn toàn không đồng nhất, cả nướcđược chia ra làm nhiều tỉnh, tỉnh lại chia thành những khu hành chính nhỏ hơnnhư khu tư pháp, khu hành chính…Các khu đó không đáp ứng những lãnh địaphong kiến độc lập, sáp nhập vào triều vua Pháp qua các thời kì khác nhau.Chế độ quân chủ chuyên chế Pháp lúc bấy giờ càng thể hiện sự bất lực củanó ở chỗ không hoàn thành được sự thống nhất đất nước trên phương diệnchính trị và hành chính; nó trở thành vật cản đối với sự phát triển của nước

Pháp cần được cải thiện.+ Tình hình xã hộiĐến thế kỉ XVIII, nước Pháp tồn tại các mâu thuẫn cơ bản giữa nhữngđẳng cấp có đặc quyền và không có đặc quyền. Chế độ quân chủ chuyên chếbảo vệ rất chặt chẽ sự phân chia xã hội thành 3 đẳng cấp có quyền lợi và nghĩavụ khác nhau: Tăng lữ là đẳng cấp thứ nhất, quý tộc là đẳng cấp thứ hai vàđẳng cấp thứ ba bao gồm tất cả những tầng lớp, giai cấp còn lại: tư sản, nôngdân, công nhân, bình dân thành thị…Mặc dù tăng lữ quý tộc chỉ chiếm hơn 1%dân số, nhưng hai đẳng cấp trên lại nắm toàn bộ các chức vụ quan trọng trongbộ máy nhà nước và giáo hội, được hưởng mọi quyền lợi, sống dựa trên sức laođộng của đẳng cấp thứ ba, là giai cấp thống trị của nhà nước Pháp phong kiếnvà chuyên chế.

Trang 7

CHƯƠNG HAI. CHẾ ĐỘ BA ĐẲNG CẤP CỦA PHÁP2.1. Vai trò của ba đẳng cấp2.1.1. Đẳng cấp tăng lữĐẳng cấp tăng lữ là đẳng cấp đảm đương chức vụ tôn giáo thiêng liêng,đại diện cho tư tưởng triết học của nhà thờ chống lại tư tưởng tiến bộ của triếthọc Ánh sáng thế kỉ XVIII. Tăng lữ có nhiều đặc quyền đặc lợi nhất, nắm giữtrong tay rất nhiều ruộng đất. Trường học các cấp đều do Giáo hội cai quản.Môn Thần học là môn bắt buộc.Trong nội bộ đẳng cấp tăng lữ cũng có sự phân hóa thành các tầng lớp:tăng lữ cấp trên (Giáo chủ, Tổng giám mục, Trưởng tu viện lớn) và tăng lữ cấpdưới (Thầy cả, Thầy trợ tế, linh mục địa phương). Họ có quyền khác nhau, nênthái dộ chính trị cũng không giống nhau.Phần lớn tăng lữ cấp trên xuất thân đại quý tộc, đồng thời là những địa chủlớn (143 giám mục của nhà nước đều xuất thân từ gia đình giàu sang). Tăng lữ

Mọi Người Xem :   Giải thích một số từ ngữ trong Luật Dược - Vietnam Regulatory Affairs Society
cấp dưới lại xuất thân từ nông dân hay tư sản. Của cải cũng được phân phốikhông bình đẳng trong nội bộ đẳng cấp. Tăng lữ cấp trên thường có thu nhậptrên 100.000 livrơ, nghĩa là gấp 140 lần bổng cấp của một Thầy cả, 240 lầnbổng cấp của Thầy trợ tế.2.1. 2. Đẳng cấp quý tộcĐẳng cấp quý tộc có nhiều quyền lợi gắn chặt với chế độ phong kiếnchuyên chế. Đẳng cấp này cũng chia thành (“quý tộc cung kiếm” và “quý tộcáo dài”. “Quý tộc cung kiếm” thuộc hàng ngũ quý tộc lâu đời, được phân làmhai tầng lớp có đời sống và lối sống rất khác biệt nhau: quý tộc triều đình vàquý tộc địa phương. Có khoảng 4.000 gia đình quý tộc là những “quý tộc cungkiếm”, sống ở cung đình Véc xai bằng tiền trợ cấp của nhà vua. Về thu nhậpcũng như về lối sống, quý tộc địa phương khác hẳn với quý tộc triều đình. Cáclãnh chúa ở nông thôn, nhất là những gia đình đã nghèo đi, được học hành rấtít, đôi khi chỉ kí được cái tên là cùng. “Quý tộc áo dài” là tầng lớp được quý tộchóa từ các thế kỉ XVI, XVII và chức vị nắm giữ. Họ thường xuất thân từ giaicấp tư sản và dùng tiền mua tước quý tộc. Phần lớn trong số họ là quý tộc tưpháp, và tham gia vào các chức vụ hành chính quan trọng, nên ngày càng có thếlực trong chế độ phong kiến chuyên chế và có quyền lợi trong việc bảo tồn chếđộ ấy. Cả hai tầng lớp “cung kiếm” và “áo dài” đều bảo thủ và phản động.“Quý tộc áo dài” tuy thừa nhận khả năng tiến hành một số cải cách có thể chỉnh

Trang 8

đốn và cải tiến chế độ, song lại là kết thù kiên quyết nhất của mọi sự thay đổitriệt để.Quý tộc Pháp có nhiều điểm khác biệt với quý tộc Anh, như quý tộc Phápđược hưởng nhiều đặc quyền về danh dự, về tư pháp và đặc biệt là miến hầu hếtmọi thứ thuế. Hơn nữa, nếu như nước Anh trước cách mạng, tính chất quânnhân trong quý tộc hầu như không tồn tại, thì ở Pháp vào thế kỉ XVIII, các cấp

chỉ huy trong quân đội chủ yếu do quý tộc nắm giữ. Một điểm khác nữa giữaquý tộc Pháp và quý tộc Anh là thái độ khinh rẻ lao động, coi thường chuyệnkinh doanh của quý tộc Pháp; bộ phận quý tộc tự do, tư sản hóa ở Pháp là rấtnhỏ bé. Quý tộc tự do chỉ thực sự bắt đầu tách rời khỏi hàng ngũ các đẳng cấpcó đặc quyền về sau này, trong thời kì cách mạng, khi về quan điểm chính trịhọ tỏ ra gần gũi với bộ phận đại tư sản.2.1.3. Đẳng cấp thứ baĐẳng cấp thứ ba chiếm tuyệt đại đa số dân số Pháp (trên 90%), tuy là lựclượng sản xuất chủ yếu, nhưng họ không có quyền lợi chính trị, bị áp bức bóclột nặng nề.Đẳng cấp thứ ba bao gồm các giai cấp: tư sản, nông dân và tầng lớp bìnhdân thành thị.Giai cấp tư sản là giai cấp có thế lực kinh tế lớn nhất. Cuối thế kỉ XVIII,cùng với sự phát triển của công thương nghiệp, sức mạnh của giai cấp tư sảncàng được tăng cường. Giai cấp tư sản tập trung trong tay mình những nguồnvốn khổng lồ, làm chủ những xí nghiệp công nghiệp trong nước, khống chế nộivà ngoại thương, làm chủ nhiều diện tích đất đai. Nhiều quý tộc phá sản sau khitiêu pha hết gia tài đã trở thành con nợ của tư sản, thậm chí triều đình cũng luônphải vay tiền của tư sản để phục vụ nhu cầu ăn chơi của hoàng gia.Bônaphê (Bonafé) – một chủ đóng tàu ở thành phố cảng Boócđô – đếnnhững năm trước cách mạng đã là chủ sở hữu một đội yauf với 30 chiếc tàu vàmột tài sản trị giá tới 16 triệu livrơ.Giai cấp tư sản vừa giàu có hơn, lại vừa có tri thức hơn cả các đẳng cấp cóđặc quyền. Giai cấp tư sản nghiên cứu khoa học, một mặt để phục vụ cho côngviệc kinh doanh làm giàu của mình, mặt khác dùng làm vũ khí để đấu tranhchống lại những tư tưởng phản động, bảo thủ của quý tộc và tăng lữ. Nhìnchung giai cấp tư sản mâu thuẫn với các đẳng cấp có cấp có đặc quyền, cho nênchống lại chế độ phong kiến.Tuy nhiên giai cấp tư sản cũng phân hóa thành nhiều tầng lớp: đại tư sảntài chính, đại tứ sản công thương, tư sản công thương vừa và nhỏ, tư sản làmnghề tự do, tiểu tử sản….Đại tư sản là những người có tài sản lớn, họ là những chủ ngân hàng,những nhà tài chính kết xù, họ thu những khoản lợi nhuận khổng lồ bằng cáchcho triều đình và quý tộc cung đình vay nợ. Đại tư sản tuy gần gũi với chế độchuyên chế hơn các bộ phận khác trong giai cấp tư sản song họ vẫn không có

Trang 9

quyền lợi về chính trị. Tư sản công nghiệp và thương nghiệp chiếm số lượngđông hơn, và trong hoạt động kinh doanh hàng ngày họ luôn là bộ phận vấpphải những cản trở của chế độ phong kiến chuyên chế. Cũng giống như đại tưsản, họ tuy có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế và giàu có, song họkhông được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước. Tiểu tư sản cũngngày càng bất mãn với trật tự xã hội hiện có.Do có sự khác nhau về địa vị, thế lực kinh tế nhưng trước cách mạng cáctầng lớp tư sản đều rất thống nhất với nhau trong cuộc đấu tranh chống đặcquyền, chống phong kiến, đòi quyền lợi chính trị tương xứng với địa vị kinh tếcủa họ. Giai cấp tư sản khao khát giành chính quyền, tìm cách cải tổ xã hội theonhững nguyên tắc mới phù hợp với quyền lợi của mình. Trong tất cả các giaicấp thời bấy giờ, tư sản là lực lượng cách mạng nhất. Vì thế họ nắm giữ quyềnlãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến.Nông dân là giai cấp đông đảo trong xã hội là những người cực khổ nhất,phải gánh chịu hầu hết gánh nặng của chế độ phong kiến chuyên chế. Ở Pháp,mặc dù chế độ nông nô đã chấm dứt trên pháp lí từ năm 1779, nhưng vì bị gắnchặt vào mảnh đất của địa chủ nên nông dân vẫn không được tự do và chịunhiều nghĩa vụ phong kiến nặng nề. Chính quyền phong kiến sở hữu về đất đaivà những quyền hợp pháp hóa quyền sở hữu ấy cho phép lãnh chúa bóc lộtngười nông dân không thương tiếc. Trước cách mạng, ước tính ở Pháp có từ 1đến 2 triệu nông dân rất nghèo khổ, hàng trăm nghìn người mất hết tài sản, phải

sống lang thang trong cảnh bần cùng. Bị dồn vào cảnh tuyệt vọng, họ thườngnổi dậy khởi nghĩa.Nông dân phải nộp cho nhà vua nhiều tô thuế và phu dịch khác nhau :thuế trực thu – thuế thân đánh theo đầu người ; thuế đánh vào tài sản ; thuế 1/20đánh vào thu nhập ; thuế gián thu – thường đánh vào các loại hàng hóa thiết yếunhư muối, rượu…Nông dân còn phải đóng thuế thập phân cho Giáo hội. Đối vớilãnh chúa, ngoài tô thuế đã quy định, nông dân còn phải trả nhiều khoản phụthu khác như, thuế cầu đường khi đi lại trên đường hoặc qua cầu nằm tronglãnh địa của lãnh chúa, trả tiền để xay lúa ở cối xay của lãnh chúa, để qua sôngtrên đò của lãnh chúa….Bên cạnh đó họ còn phải phục dịch không công cholãnh chúa trong những ngày lễ hội, ma chay, cưới xin. Hậu quả của ba tầng ápbức đó khiến cho người nông dân Pháp trước cách mạng ngày càng bần cùng.La Bruye đã viết về tình cảnh của người nông dân Pháp như sau: “Người tathấy một số thú vật dữ tợn, đực và cái, khắp các làng xóm, sạm đen, hốc hác vàrám nắng, gắn chặt vào mảnh đất mà chúng đào xới một cách cực kì nhẫn nại;hình như chúng cũng có một giọng nói, và khi chúng đứng lên, người ta thấychúng có bộ mặt người, quả thực chúng là người. Đêm đến, chúng rúc vàohang, sống bằng bánh mì đen, nước lã và rễ cây. Nhờ chúng, những ngườikhác khỏi phải gieo, cày và gặt để sống, và do đó, chúng xứng đáng đượchưởng bánh mà chúng đã gieo trồng”.
Mọi Người Xem :   Phục vụ bàn là gì? Kỹ năng phục vụ bàn chuyên nghiệp

Trang 10

Trước cách mạng, tuy chủ nghĩa tư bản thâm nhập yếu ớt vào nông dânPháp, song nó cũng đưa lại sự phân hóa khá rõ nét trong nội bộ nông dân. Mộttầng lớp trên hình thành gồm những nông dân giàu có, bóc lột lao động củacông nhân nông nghiệp. Còn lại, đại bộ phận là nghèo khổ, nguyên nhân chínhcủa sự nghèo đói của nông dân là do ách thống trị phong kiến và các chính sáchthuế khóa của chế độ chuyên chế đè nặng lên cuộc sống của mọi tầng lớp nông

dân. Vì thế, nên nông dân dễ dàng gắn bó chặt chẽ với giai cấp tư sản trongcuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến.Bình dân thành thị ở trong các thành phố thuộc đẳng cấp thứ ba, gồmcông nhân, thợ thủ công, những người bán hàng vặt, những người thất nghiệphoặc sống bằng nghề tạm bợ….Bình dân thành thị là tầng lớp xã hội hoàn toànkhông có quyền hành, bị đặt ở bậc thang thấp nhất ở xã hội, không ai để ý đếnquyền lợi và nhu cầu của họ. Cuộc sống khổ cực đã khiến họ nhiều lần nổi dậyđấu tranh chống phong kiến. Họ là những người tham gia tích cực trong cuộcđấu tranh chống chế độ phong kiến và chuyên chế. Tuy nhiên, ngoài yêu sáchvề bánh mì, những yêu sách về bánh mì, những yêu sách kinh tế khác và vềchính trị của họ còn khá mơ hồ.2.2. Mâu thuẫn của ba đẳng cấpTình hình xã hội Pháp Trong xã hội Pháp lúc bấy giờ tồn tại ba đẳng cấptăng lữ, quý tộc và đẳng cấp thứ ba. Quý tộc và tăng lữ chỉ chiếm 1% dân sốnhưng mọi đặc quyền đặc lợi lại rơi vào tay số ít người này. Trong khi đó đẳngcấp thứ ba chiếm tới 99% dân số nhưng bị tước đoạt mọi quyền chính trị,không được tham gia các cơ quan nhà nước, bị phụ thuộc và phải phục vụ chocác đẳng cấp có đặc quyền. Cùng với sự phát triển của công thương nghiệp, đếncuối thế kỉ XVIII, giai cấp tư sản đã trở thành một giai cấp có thế lực về kinhtế. Bọn quý tộc thiếu tiền để ăn chơi, do vậy phải vay nợ của các nhà tư sảnnày. Triều đình trở thành con nợ của họ. Giai cấp tư sản vừa giàu có lại vừa cóhọc. Họ học hỏi để phục vụ cho việc kinh doanh, chống lại nhà thờ và đòi hỏiquyền lợi chính trị. Họ muốn tham gia chính quyền, muốn xoá bỏ những luật lệngặt nghèo của nhà nước quân chủ chuyên chế, muốn mở đường cho côngthương nghiệp phát triển.Đại tư sản nắm giữ trong tay rất nhiều của cải, họ cũng có quan hệ gầngũi với chế độ quân chủ chuyên chế tuy rằng nó chưa nắm quyền chính trị. Yêucầu của họ là tiến hành cải cách, mở rộng chính quyền cho họ tham gia. Đôngđảo nhất là tầng lớp tư sản công thương nghiệp, hàng ngày gặp sự trói buộc củanhà nước chuyên chế đối với công việc kinh doanh nên có yêu cầu cách mạngrõ rệt hơn. Những người tiểu thương, tiểu chủ, tiểu tư sản nói chung, rất bấtmãn với chế độ đương thời sẽ trở thành lực lượng cách mạng tích cực. Nôngdân là giai cấp đông đảo nhất, cùng khổ nhất trong đẳng cấp thứ ba cũng nhưtrong xã hội. Họ chịu ba tầng áp bức của chế độ phong kiến: lãnh chúa, nhànước và nhà thờ. Chính vì thế họ căm thù chế độ phong kiến, nhiều lần nổi dậy

Trang 11

đấu tranh và trở thành động lực chủ yếu của cách mạng tư sản. Tầng lớp thấpnhất ở các thành phố trong đẳng cấp thứ ba là bình dân thành thị bao gồm côngnhân, thợ thủ công, những người bán hàng vặt, người hát rong, những ngườithất nghiệp hoặc sống bằng những nghề tạm bợ… Họ sống chen chúc, tạm bợvà chịu sự miệt thị về nghèo đói và không có quyền chính trị. Họ đã từng đấutranh nhiều lần chống chế độ phong kiến, mong mỏi một cuộc sống khấm kháhơn nhưng cuối cùng, đều bị đàn áp. Trong giai đoạn này công nhân chưa hìnhthành một giai cấp, ý thức giác ngộ về giai cấp còn thấp kém, nên họ thường đitheo giai cấp tư sản. Họ chính là lực lượng kiên quyết nhất trong cuộc đấu tranhchống phong kiến. Như vậy do địa vị kinh tế và chính trị quy định, xã hội Pháphồi cuối thế kỉ XVIII đã chia thành hai trận tuyến rõ rệt: Trận tuyến phong kiếnbao gồm vua, tăng lữ và quý tộc; Trận tuyến chống phong kiến gồm các tầnglớp trong đẳng cấp thứ ba do giai cấp tư sản lãnh đạo. Cuộc cách mạng tư sảnlật đổ nền quân chủ chuyên chế phong kiến của triều đại BuốcBông, thiết lậpchính quyền tư sản, mở đường phát triển cho chủ nghĩa tư bản Pháp. Lực lượngcách mạng chủ yếu là đẳng cấp thứ 3 gồm giai cấp tư sản, nông dân, dân nghềthành thị và một số tăng lữ, quý tộc lớp dưới. Tại Hội nghị 3 đẳng cấp,(5/1789), đại biểu đẳng cấp thứ ba đòi quyền bình đẳng trước pháp luật. Tháiđộ ngoan cố của nhà vua đã dẫn đến việc thành lập Hiệp hội Dân tộc của đẳngcấp thứ ba (17/6) thành Lập Quốc hội Lập hiến (9/7) Đỉnh cao của cuộc khởinghĩa quần chúng là ngày 14/7/1789 phá ngục Baxti. Cuộc cách mạng gồm 3

giai đoạn: giai đoạn 1, phái Lập hiến cầm quyền (7/1789-9/1792) công bố bảntuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền ngày 26/8/1789, bầu Quốc hội Lập pháp(1/10/1791). Đầu 1792, Áo và Phổ kí hiệp ước liên minh quân sự kêu gọi cácnước Châu Âu tham gia chiến tranh chống nước Pháp cách mạng. Trước nguycơ mất nước, nhân dân Pari nổi dậy 10/8/1972 lật đổ chính quyền thay thế bằngChính phủ Girôngđanh. Giai đoạn 2, phái Giôngđanh nắm quyền 8/19726/1793. Thành lập Hội Quốc ước và tuyên bố nước Pháp theo chế độ Cộng Hòa2/9/1792 , quyết định xử tử vua Luis XVI. Lực lượng cánh tả là pháiGiacôBanh cùng nhân dân lập công xã ở các địa phương đòi hỏi tăng cườngchiến đấu chống ngoại xâm và cải thiện đời sống của dân nghèo đã nổi dậyngày 2/6/1793 lật đổ chính phủ Girôngđanh. Giai đoạn 3, phái Giacobanh nắmquyền 6/1793 – 7/1794, do Rôbexbie đứng đầu đã quyết định chính sách chiaruộng đất cho dân nghèo, soạn thảo hiến pháp 1973 , thành lập đội quân cáchmạng để trấn áp kẻ thù bên trong và đẩy lùi kẻ thù bên ngoài bằng những biệnpháp kiên quyết (lịch sử gọi là thời kì khủng bố). Như vậy nước Pháp thoátkhỏi nguy cơ xâm lược. Nhưng do sự phân hóa nội bộ, chính quyền GiacoBanhbị lật đổ bởi cuộc đảo chính Tecmiđo 27/7/1794. Robexbie và các bạn chiếnđấu bị hành quyết. Cuộc nổi dậy của phái bảo hoàng bị Nabôliông I đè bẹp.Năm 1795, Thành lập Đốc chính; Năm 1796 chiến thắng của Nabôliông I ởAccon; Năm 1797 Babơp bị hành quyết. Năm 1789, cuộc đảo chính của

Trang 12

Nabôliông I và cuộc thành lập nhiếp chính ( Conslat ) (9-10/11) là những sựkiện đánh dấu sự kết thúc cuộc cách mạng.

KẾT LUẬNTình cảnh nông dân Pháp trước cách mạng bức tranh này không chỉ gópphần tạo biểu tượng về các đẳng cấp mà còn làm cho chúng ta hình dung đượccơ cấu của xã hội phong kiến Pháp năm 1789, địa vị, quyền lợi của các đẳng

cấp: “đẳng cấp tăng lữ” và “đẳng cấp quý tộc” là “những đẳng cấp có đặcquyền được hưởng mọi quyền lợi chỉ dành riêng cho họ; còn “đẳng cấp thứ ba”bao gồm nhiều giai cấp: nông dân, thợ thủ công, tư sản… Phải đóng mọi thứthuế mà không có quyền gì (ngay trong “hội nghị ba đẳng cấp” cũng quy địnhbỏ phiếu theo đẳng cấp, chứ không theo số đại biểu, cho dù số đại biểu đẳngcấp thứ ba là 600, bằng tổng số đại biểu hai đẳng cấp kia – khoảng 300 đại biểucho mỗi đẳng cấp – nên không bao giờ đẳng cấp thứ ba chiếm đa số phiếu).Đẳng cấp thứ ba lại gồm nhiều giai cấp lại có những tầng lớp khác nhau.Nông dân có bần nông, trung nông và phú nông; tư sản có đại tư sản, tư sảncông thương và tư sản nhỏ, tri thức tiểu tư sản tùy theo quyền lợi và địa vị khácnhau mà các tầng lớp trong một giai cấp, các giai cấp trong cùng một đẳng cấpcó thái độ khác nhau trong đấu tranh xã hội.Việc trình bày tình trạng nông nghiệp lạc hậu, cấu tạo xã hội và địa vị củacác đẳng cấp (đặc biệt là thân phận và ước mơ của nông dân), được thể hiệntrong bức biếm họa về tình cảnh của người nông dân trước cách mạng.Mâu thuẫn gay gắt trong xã hội còn thể hiện ở trên lĩnh vực tư tưởng, cóthể xem đây là một sự chuẩn bị cho cuộc cách mạng. Nói một cách khác nhữngtrào lưu tư tưởng mới là người đi trước, dọn đường cho cuộc cách mạng xã hội.Các nhà văn, các nhà khoa học thuộc những tầng lớp, giai cấp khác nhau đềunằm trong mặt trận chung trong chế độ phong kiến chuyên chế và chỗ dựa tưtưởng của nó – giáo hội Thiên chúa. Như Mác đã chỉ rõ “tôn giáo, nhận thức vềtự nhiên, xã hội và chế độ nhà nước đều bị xã hội phê phán gay gắt”.Những người thuộc trào lưu tư tưởng ánh sáng đều đấu tranh đòi xóa bỏchế độ phong kiến chuyên chế, xong giữa họ – đại biểu cho các tầng lớp, giaicấp khác nhau cũng có những quan điểm khác nhau. Hiểu rõ điều này, chúng tamới nhận thức vì sao cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các đảng phái, sựxung đột về tư tưởng chính trị đã diễn ra gay gắt trong cách mạng tư sản Pháp.

Trang 13



Các câu hỏi về tăng lữ ở pháp là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê tăng lữ ở pháp là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết tăng lữ ở pháp là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết tăng lữ ở pháp là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết tăng lữ ở pháp là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về tăng lữ ở pháp là gì


Các hình ảnh về tăng lữ ở pháp là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu tin tức về tăng lữ ở pháp là gì tại WikiPedia

Bạn hãy tìm nội dung về tăng lữ ở pháp là gì từ trang Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

💝 Nguồn Tin tại: https://cctechvietnam.vn/hoi-dap/

💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://cctechvietnam.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

Add Comment